Nghị định 346/2026/NĐ-CP nâng mức hỗ trợ và mở rộng loại hình bảo hiểm, nhưng không phải mọi người làm nông đều được Nhà nước chi trả 95% phí.
Điểm cần chú ý là các tỷ lệ 95%, 50% và 30% đều là mức tối đa; việc áp dụng thực tế còn phụ thuộc nhóm đối tượng, địa bàn, loại rủi ro và quyết định triển khai của từng tỉnh.
Mức 95% trong chính sách bảo hiểm nông nghiệp hỗ trợ 95% 50% 30% 2026 chỉ áp dụng tối đa cho cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo. Với cá nhân không thuộc hai nhóm này, mức hỗ trợ tối đa là 50%, còn tổ chức sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện được hỗ trợ tối đa 30%. Nói cách khác, con số 95% không phải mức chung cho mọi nông dân hay mọi hợp đồng.
Dữ kiện này được xác nhận từ Nghị định 346/2026/NĐ-CP của Chính phủ, ký ngày 5/9/2026 và có hiệu lực từ 20/10/2026, sửa đổi Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. So với khung cũ, nghị định mới nâng hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo từ 90% lên 95%; nâng nhóm cá nhân còn lại từ 20% lên 50%; và nâng nhóm tổ chức từ 20% lên 30%.
Ba nhóm được hỗ trợ, ba mức trần khác nhau
Điểm dễ gây nhầm lẫn nhất là nhiều người chỉ nhìn thấy con số 95% rồi hiểu rằng toàn bộ người sản xuất nông nghiệp sẽ được hưởng cùng một mức. Thực tế, chính sách được chia thành ba nhóm rõ ràng. Nhóm thứ nhất là cá nhân thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, được hỗ trợ tối đa 95% phí. Nhóm thứ hai là cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo, được hỗ trợ tối đa 50%. Nhóm thứ ba là tổ chức sản xuất nông nghiệp, nhưng chỉ khi đáp ứng điều kiện theo nghị định thì mới được hỗ trợ tối đa 30%.
Với nhóm tổ chức, phạm vi không mở cho mọi doanh nghiệp nông nghiệp theo nghĩa rộng. Nghị định nêu doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp, hoặc tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật Hợp tác xã, phải đáp ứng một trong các điều kiện nhất định như có hợp đồng liên kết sản xuất – tiêu thụ phù hợp quy định, hoặc có sản phẩm được chứng nhận chất lượng, an toàn thực phẩm, hay được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao, hoặc có xác nhận đầu tư trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Vì sao phải nhấn mạnh chữ “tối đa”
Từ khóa quan trọng của chính sách là “tối đa”. Điều này có nghĩa 95%, 50% hay 30% là trần hỗ trợ do Nhà nước cho phép, không đồng nghĩa mọi hợp đồng khi ký ra đều tự động nhận đúng mức đó. Mức hỗ trợ thực tế còn gắn với chương trình hỗ trợ tại địa phương, đối tượng bảo hiểm cụ thể, loại rủi ro được hỗ trợ, thời gian thực hiện và khả năng cân đối ngân sách.
Một thay đổi đáng chú ý khác là thẩm quyền quyết định triển khai đã được đẩy mạnh về cấp tỉnh. Theo khung sửa đổi, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định địa bàn được hỗ trợ, đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ, loại rủi ro, mức hỗ trợ và thời gian thực hiện trong phạm vi địa phương. Vì vậy, cùng một khung nghị định trung ương, mức áp dụng thực tế có thể không giống nhau giữa các tỉnh, thậm chí chỉ áp dụng ở một số xã thay vì toàn tỉnh.
Phạm vi hỗ trợ đã rộng hơn, nhưng vẫn phải kiểm tra từng chương trình
Nghị định 346 cũng mở rộng phạm vi đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ. Ngoài các nhóm đã quen thuộc như lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau; trâu, bò, lợn, gia cầm; tôm sú, tôm thẻ chân trắng và cá tra, văn bản mới bổ sung nhóm “đối tượng bảo hiểm khác”, gồm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản và cây lâm nghiệp chính, chủ lực thuộc danh mục do cơ quan có thẩm quyền ở trung ương công bố.
Song việc phạm vi được mở rộng không có nghĩa mọi cây trồng, vật nuôi ở mọi địa phương đều lập tức được ngân sách hỗ trợ phí. Người dân và tổ chức vẫn phải kiểm tra xem địa phương mình đã ban hành chương trình hỗ trợ hay chưa, hỗ trợ cho đối tượng nào, loại rủi ro nào, trong thời gian nào và theo mức bao nhiêu.
Điểm mới về sản phẩm bảo hiểm và điều người mua cần hỏi trước
Không chỉ thay đổi về tiền hỗ trợ, nghị định còn mở rộng loại hình sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp. Bên cạnh bảo hiểm rủi ro định danh, mọi rủi ro hay tổn thất thu nhập, khung mới bổ sung rõ hơn các sản phẩm theo chỉ số năng suất, chỉ số thời tiết và chỉ số viễn thám. Đây là điểm đáng chú ý vì cách bồi thường của bảo hiểm chỉ số không phụ thuộc hoàn toàn vào thiệt hại thực tế của từng hộ, mà dựa trên biến động của chỉ số đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Với người mua bảo hiểm, câu hỏi quan trọng không chỉ là “được hỗ trợ bao nhiêu phần trăm”, mà còn là hợp đồng thuộc loại nào, dữ liệu chỉ số lấy từ đâu, rủi ro nào được bảo hiểm và địa phương có hỗ trợ cho loại hợp đồng đó hay không. Đến ngày 7/10/2026, điều còn phải theo dõi tiếp là danh mục áp dụng cụ thể ở từng tỉnh sau khi nghị định có hiệu lực từ ngày 20/10/2026. Vì vậy, cách hiểu chính xác nhất hiện nay là: 95% chỉ là mức trần cao nhất cho hộ nghèo, cận nghèo; các nhóm còn lại lần lượt là 50% và 30%, trong một cơ chế áp dụng có điều kiện và theo quyết định triển khai của địa phương.
